Dự thảo Báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XXI trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXII

TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH; PHÁT HUY DÂN CHỦ, SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, BẢN SẮC VĂN HÓA VÀ TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG; HUY ĐỘNG, SỬ DỤNG HIỆU QUẢ MỌI NGUỒN LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN NHANH, BỀN VỮNG, PHẤN ĐẤU XÂY DỰNG QUẢNG NAM TRỞ THÀNH TỈNH PHÁT TRIỂN KHÁ CỦA CẢ NƯỚC
VÀO NĂM 2030

 

PHẦN THỨ NHẤT

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU
ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XXI (NHIỆM KỲ 2015 – 2020)

Năm năm qua, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Quảng Nam tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, bản sắc văn hóa, đoàn kết, không ngừng đổi mới, sáng tạo, tổ chức triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI gắn với Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, tạo tiền đề để phát triển Quảng Nam nhanh, bền vững trong những năm tiếp theo.
I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
1. Thực hiện các nhiệm vụ đột phá gắn với cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng có nhiều chuyển biến tích cực
1.1. Xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, phát triển nguồn nhân lực và cải thiện môi trường đầu tư đạt kết quả nhất định. Huy động nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đô thị và nông thôn. Nhiều công trình giao thông quan trọng được xây dựng, kết nối thông suốt . Hạ tầng các khu – cụm công nghiệp, khu kinh tế tiếp tục được quan tâm đầu tư. Nhiều thiết chế văn hoá – xã hội đã xây dựng hoàn thành đưa vào sử dụng .
Đội ngũ cán bộ được đào tạo, nâng cao trình độ về chuyên môn, lý luận chính trị và đạo đức công vụ, ý thức phục vụ Nhân dân . Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm được quan tâm thường xuyên. Nhiều cơ chế hỗ trợ đào tạo lao động, hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã được ban hành và phát huy hiệu quả; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của tỉnh là 3,83% .
Môi trường đầu tư được cải thiện, thu hút đầu tư đạt khá. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) từ năm 2016 đến nay nằm trong nhóm 10 tỉnh, thành phố có điểm số cao nhất cả nước . Kết quả thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp của tỉnh qua 05 năm tăng cao .
1.2. Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế và đầu tư công được thực hiện có hiệu quả, theo hướng chất lượng và bền vững. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá; tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân 9,53%/năm , xấp xỉ đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra, nằm trong nhóm tỉnh, thành phố có tốc độ tăng trưởng cao của cả nước, đưa quy mô nền kinh tế lên gần 109 nghìn tỷ đồng, tăng 1,8 lần so với đầu nhiệm kỳ. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội so với GRDP chiếm 31,51%, đạt mục tiêu Nghị quyết đề ra. GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 72,4 triệu đồng, gấp 1,7 lần so với năm 2015; thu nhập bình quân đầu người đạt 45 triệu đồng; năng suất lao động xã hội năm 2020 là 124 triệu đồng/lao động. Thu ngân sách trên địa bàn tăng bình quân 4,4%/năm; trong đó, thu nội địa tăng bình quân 9%/năm . Cơ cấu lại kinh tế và đầu tư công theo hướng tập trung cho các nhiệm vụ đột phá, ưu tiên cho vùng kinh tế trọng điểm, vùng miền núi còn nhiều khó khăn. Mở rộng xã hội hóa, giảm dần tỷ trọng đầu tư của Nhà nước trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch dần sang khu vực dịch vụ, tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GRDP giảm từ 14,7% năm 2015 còn 11%, các ngành phi nông nghiệp tăng từ 85,3% lên 89% vào năm 2020. Cơ cấu lao động chuyển dịch khá tích cực: Khu vực nông, lâm, thủy sản chiếm 38%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 29,1%; khu vực dịch vụ chiếm 32,9%.
1.3. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng ổn định và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế, từng bước chuyển dịch theo hướng công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế tạo động lực để phát triển công nghiệp hỗ trợ cơ khí ô tô, dệt may, da giày. Giá trị gia tăng ngành công nghiệp tăng bình quân hằng năm gần 10%. Các sản phẩm ngành công nghiệp khẳng định được chất lượng và thương hiệu như: Ô tô, sản phẩm điện tử, hàng thủ công mỹ nghệ, dệt may, da giày… đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.
1.4. Hoạt động thương mại, du lịch, dịch vụ ngày càng phát triển. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng bình quân 15%/năm. Du lịch phát triển cả về quy mô và chất lượng; Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết về đẩy mạnh phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Khách du lịch tham quan, lưu trú trên địa bàn tỉnh tăng nhanh . Tổng giá trị xuất khẩu hơn 5 tỷ USD, tăng bình quân trên 19%/năm. Hoạt động bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, dịch vụ y tế, tài chính, bảo hiểm, ngân hàng… phát triển mạnh.
1.5. Nông nghiệp phát triển ổn định, bước đầu đã xuất hiện các mô hình ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ cao vào sản xuất. Việc thực hiện chính sách tích tụ ruộng đất, xây dựng cánh đồng lớn, cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp… đạt được kết quả bước đầu. Kinh tế tập thể có chuyển biến nhất định, phương thức hoạt động của một số hợp tác xã được đổi mới hiệu quả. Chương trình “mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đạt kết quả khả quan . Cơ cấu kinh tế nội bộ ngành có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: Giảm tỷ trọng nông nghiệp từ 63,7% năm 2015 còn 58,6% năm 2020, tăng tỷ trọng lâm nghiệp từ 8% năm 2015 lên 11,3% năm 2020, tăng tỷ trọng thủy sản từ 30,1% năm 2015 lên 30% năm 2020; tỷ trọng chăn nuôi chiếm 30%. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 40,5 triệu đồng/người/năm.
1.6. Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM) được thực hiện đồng bộ và đạt nhiều kết quả. Diện mạo nông thôn thay đổi rõ nét, chất lượng cuộc sống người dân được nâng lên, tạo được sự đồng thuận trong xã hội. Dự kiến đến cuối năm 2020, có 116/200 xã đạt chuẩn NTM, đạt tỷ lệ 58%, vượt 8% so với chỉ tiêu Nghị quyết; có 15 xã được công nhận đạt chuẩn “NTM nâng cao”, 03 xã được công nhận đạt chuẩn “NTM kiểu mẫu”; 05/18 huyện, thị xã, thành phố được công nhận đạt chuẩn NTM .
2. Vùng động lực đồng bằng, ven biển và vùng trung du, miền núi được tập trung phát triển và đẩy mạnh đầu tư
2.1. Đối với vùng đồng bằng, ven biển: Tỉnh ủy đã ban hành Kết luận về thực hiện các dự án trọng điểm tại vùng Đông Nam của tỉnh. Đến nay, đã có 5/7 nhóm dự án đang triển khai thực hiện đạt kết quả tốt , 2/7 nhóm dự án đang xúc tiến đầu tư và lập thủ tục chuẩn bị đầu tư .
Khu kinh tế mở Chu Lai tiếp tục được tập trung đầu tư hạ tầng và thu hút nhiều dự án, đóng góp bình quân 65% tổng thu ngân sách tỉnh, nổi bật là Khu liên hợp cơ khí ô tô Chu Lai – Trường Hải. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế mở Chu Lai đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 là khu kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực; là một trong những hạt nhân, trung tâm phát triển lớn của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Cảng hàng không Chu Lai đã được điều chỉnh quy hoạch và ngày càng phát huy hiệu quả; Cảng biển Chu Lai quy hoạch là cảng biển loại I và tiếp tục được đầu tư, đảm bảo tiếp nhận các tàu vận tải quốc tế có trọng tải lớn.
Kinh tế biển phát triển khá mạnh với nhiều dự án được đầu tư như: Vận tải biển, cảng biển, du lịch biển, nuôi trồng thuỷ sản; phát triển cảng cá và dịch vụ hậu cần nghề cá; đẩy mạnh khai thác hải sản vùng khơi. Gắn phát triển kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Các chính sách hỗ trợ phát triển ngư nghiệp, ngư dân của Chính phủ được tổ chức thực hiện tốt. Du lịch biển ngày càng phát huy hiệu quả với sự phát triển của nhiều dự án du lịch, nghỉ dưỡng ven biển; khai thác du lịch đảo Cù Lao Chàm từng bước được cải thiện về chất lượng và hiệu quả.
2.2. Đối với vùng trung du, miền núi: Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết về phát triển kinh tế – xã hội miền núi gắn với định hướng thực hiện một số dự án lớn tại vùng Tây của tỉnh và tập trung chỉ đạo thực hiện đạt kết quả nhất định, nhất là công tác rà soát quy hoạch, bố trí sắp xếp dân cư gắn với xây dựng NTM, tạo sinh kế bền vững thông qua các chương trình mở rộng diện tích trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao như: Cao su, cây keo, phát triển cây sâm Ngọc Linh và một số loại cây dược liệu quý, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững… Diện mạo khu vực trung du, miền núi từng bước thay đổi, hệ thống kết cấu hạ tầng được đầu tư, nâng cấp; đời sống vật chất, tinh thần người dân được cải thiện.
2.3. Mạng lưới đô thị tiếp tục phát triển, đảm bảo liên kết giữa đô thị và nông thôn. Hình thành chuỗi đô thị ven biển giữ vai trò chủ đạo trong việc tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội như: Đô thị mới Điện Nam – Điện Ngọc, thành phố Hội An, vệt du lịch cao cấp ven biển Hội An – Điện Ngọc, đô thị Nam Hội An, Tam Kỳ, Chu Lai – Núi Thành. Đến cuối năm 2020, toàn tỉnh có 21 đô thị , hầu hết được tập trung nguồn lực đầu tư khá đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, các khu dân cư, các trung tâm hành chính, thương mại, văn hóa, thể dục thể thao.
3. Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững được triển khai quyết liệt và tập trung nhiều nguồn lực để thực hiện
Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết về công tác giảm nghèo và chỉ đạo thực hiện quyết liệt. HĐND tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế khuyến khích thoát nghèo bền vững, hỗ trợ cải thiện mức sống và triển khai thực hiện hiệu quả. Cùng với nỗ lực của toàn xã hội, đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 12,9% năm 2015 xuống còn 5,37% vào cuối năm 2020 (trong đó, tỷ lệ hộ nghèo thuộc đối tượng bảo trợ xã hội là 1,81%), bình quân giảm 1,51%/năm, đạt chỉ tiêu Nghị quyết (1 – 1,5%). Số hộ cận nghèo hiện còn 10.922 hộ, chiếm tỷ lệ 2,58%.
4. Công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu được quan tâm
Tỉnh ủy đã ban hành các Nghị quyết về công tác quản lý, bảo vệ rừng, tài nguyên khoáng sản; bảo vệ môi trường và tập trung chỉ đạo thực hiện đạt được một số kết quả tích cực. Các ngành, địa phương đã chú trọng thực hiện công tác quy hoạch sử dụng đất; xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Nhân dân; công tác quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, quản lý biển và hải đảo được chú trọng, từng bước đi vào nền nếp.
Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường được thực hiện tốt. Công tác quản lý, bảo vệ môi trường đô thị và nông thôn, nhất là ở các khu, cụm công nghiệp, các địa điểm vui chơi, du lịch… được tăng cường.
Thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu và tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ. Huy động nguồn lực đầu tư các công trình, dự án ứng phó với biến đổi khí hậu; phòng, chống thiên tai; phòng, chống ngập úng đô thị.
5. Đổi mới giáo dục – đào tạo, phát triển khoa học – công nghệ, chú trọng lĩnh vực y tế và chính sách đối với người có công
Công tác giáo dục – đào tạo từng bước được đổi mới căn bản, toàn diện, phù hợp với tình hình thực tiễn của tỉnh. Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết về công tác đổi mới giáo dục và đào tạo. Chất lượng giáo dục – đào tạo có chuyển biến tích cực, nhất là chất lượng giáo dục mũi nhọn . Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được thực hiện tốt . Tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt kết quả khá cao . Hoàn thành công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, tiểu học và trung học cơ sở. Huy động trẻ ra lớp đi học tiểu học, THCS, THPT đúng độ tuổi đạt kết quả cao. Số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên được nâng lên. Cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học cơ bản đáp ứng được nhu cầu dạy học, chú trọng đầu tư, nâng cao chất lượng giáo dục cho khu vực miền núi, vùng khó khăn.
Hoạt động khoa học và công nghệ ngày càng được quan tâm và đạt nhiều kết quả trên một số lĩnh vực, nhất là công tác quản lý tiêu chuẩn – đo lường – chất lượng; xác lập, bảo hộ, quản lý và phát triển quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm hàng hóa đặc trưng, làng nghề truyền thống, chủ lực của tỉnh. Chú trọng gắn khoa học và công nghệ với sản xuất kinh doanh, đưa nhiều đề tài nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất mang lại kết quả cao . Đã đặt hàng thực hiện nhiều nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia . Các đề tài trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn đã góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, văn hóa của tỉnh. Việc xây dựng chính quyền điện tử đạt kết quả bước đầu. Tích cực đưa tiến bộ công nghệ thông tin vào sản xuất và đời sống.
Hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đạt kết quả nhất định. Tập trung hỗ trợ khởi nghiệp trên một số lĩnh vực . Công tác thông tin, tuyên truyền, xây dựng văn hóa khởi nghiệp được quan tâm, vận động thành lập Quỹ hỗ trợ khởi nghiệp; tinh thần khởi nghiệp đổi mới sáng tạo lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, nhiều dự án khởi nghiệp chất lượng hình thành.
Mạng lưới y tế trên toàn tỉnh ngày càng được củng cố, kiện toàn và phát triển cả về số lượng và chất lượng. Đến năm 2020, có 9 bác sỹ/vạn dân và 41,5 giường bệnh/vạn dân. Y tế dự phòng được quan tâm, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được cải thiện; đặc biệt, đã phòng, chống có hiệu quả đại dịch Covid-19. Công tác bảo hiểm y tế, khám, chữa bệnh cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi được triển khai thực hiện tốt. Đến nay, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 93%.
Công tác chăm lo đối tượng chính sách, người có công được quan tâm thường xuyên, đời sống vật chất, tinh thần của đối tượng chính sách được cải thiện. Thực hiện tốt chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng . Công tác tìm kiếm, quy tập mộ liệt sỹ được quan tâm thực hiện; các chương trình về xây dựng, cải tạo nghĩa trang, tượng đài, nhà bia anh hùng liệt sỹ được đầu tư, nâng cấp. Thực hiện kịp thời việc phong tặng, truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng và nhận phụng dưỡng các Mẹ Việt Nam anh hùng còn sống .
6. Xây dựng, phát triển văn hóa, con người được quan tâm xuyên suốt và có nhiều chuyển biến tích cực
Các phong trào thi đua, cuộc vận động do Trung ương phát động được triển khai thực hiện tích cực, có chất lượng ; qua đó, đã xuất hiện những nhân tố mới, những điển hình trong xây dựng kinh tế, phát triển xã hội. Các thiết chế văn hoá được đầu tư gắn với xây dựng NTM. Hoạt động thể dục – thể thao được đẩy mạnh, huy động được các nguồn lực xã hội đóng góp xây dựng thiết chế thể thao.
Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đạt kết quả tốt, nhất là các di sản văn hóa thế giới, các giá trị văn hoá, nghệ thuật của đồng bào các dân tộc thiểu số, nghệ thuật Tuồng, Bài chòi… Các hoạt động hợp tác quốc tế về văn hóa, công tác khảo cổ và trùng tu, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa thế giới Hội An và Mỹ Sơn, khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm (Hội An) được thực hiện tốt.
Công tác truyền thông, báo chí được tăng cường, góp phần tích cực trong việc tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao dân trí, định hướng dư luận xã hội và đáp ứng nhu cầu thông tin của Nhân dân.
7. Quốc phòng, an ninh được giữ vững; các hoạt động đối ngoại được mở rộng
Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận biên phòng toàn dân được tăng cường, nhất là “thế trận lòng dân”; thực hiện tốt chủ trương kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế – xã hội, kinh tế – xã hội với quốc phòng, an ninh. Công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ thực hiện chặt chẽ, đạt chỉ tiêu đề ra; thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng, huy động, tiếp nhận lực lượng dự bị động viên theo quy định; công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng được triển khai đồng bộ, hiệu quả, thiết thực. Lực lượng vũ trang được xây dựng vững mạnh về mọi mặt, chất lượng tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu được nâng lên, đảm bảo chủ động trong mọi tình huống.
An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn được giữ vững ổn định, thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật, không để hình thành “điểm nóng” phức tạp về an ninh, trật tự. Hằng năm, giải quyết đạt trên 90% tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được tiếp nhận và thụ lý. Công tác bảo đảm an toàn giao thông được tăng cường. Phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” được đẩy mạnh và đổi mới, đã phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Hoạt động đối ngoại tiếp tục được mở rộng, quan hệ hợp tác giữa tỉnh Quảng Nam với các địa phương, đối tác nước ngoài và các tổ chức quốc tế được tăng cường ; mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị đặc biệt giữa Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các địa phương hai bên biên giới Việt – Lào tiếp tục được phát huy. Công tác quản lý nhà nước về biên giới, lãnh thổ quốc gia, thông tin đối ngoại, giao lưu văn hóa với nước ngoài được thực hiện tốt.
8. Công tác nội chính; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; cải cách tư pháp được thực hiện nghiêm túc
Công tác thanh tra có trọng tâm, trọng điểm, phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm. Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân đạt kết quả tốt. Công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng. Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng được đẩy mạnh; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Nhân dân đối với công tác phòng, chống tham nhũng được nâng lên. Các vụ việc, vụ án tham nhũng được xử lý nghiêm minh, đúng quy định pháp luật .
Công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thực hiện theo đúng quy định pháp luật, không xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm. Đã giải quyết dứt điểm nhiều vụ việc, vụ án phức tạp kéo dài, dư luận xã hội quan tâm ; các chế định về luật sư, bổ trợ tư pháp thực hiện đúng quy định của pháp luật; vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp được nâng lên. Hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử đối với hoạt động tư pháp được chú trọng.
9. Dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân được phát huy; nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội có nhiều đổi mới, thiết thực
Quyền làm chủ của Nhân dân được bảo đảm và phát huy trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Khối đại đoàn kết toàn dân trên địa bàn tỉnh được củng cố ngày càng vững chắc. Tăng cường vận động, đoàn kết đồng bào các dân tộc, các tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
Nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội ngày càng đổi mới, hướng mạnh về cơ sở, gắn với lợi ích thiết thực của đoàn viên, hội viên và Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM; phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Hoạt động giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội ngày càng được tăng cường, hiệu quả. Vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và Nhân dân luôn được phát huy; tích cực tham gia giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh của công dân theo quy định của pháp luật.
Hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội từ tỉnh đến cơ sở được củng cố, kiện toàn theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Tập trung phát triển hội viên, đoàn viên, xây dựng và phát huy vai trò lực lượng nòng cốt, cốt cán; xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị- xã hội có năng lực, tâm huyết và kinh nghiệm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
10. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý, điều hành của hệ thống chính quyền các cấp được tăng cường; cải cách hành chính tiếp tục được đẩy mạnh
Bộ máy chính quyền các cấp tiếp tục được củng cố, kiện toàn. Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh và Hội đồng nhân dân các cấp đã tổ chức tốt công tác giám sát, tiếp xúc cử tri và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân định kỳ; tổng hợp, kiến nghị các cơ quan Trung ương, các ngành chức năng của tỉnh giải quyết nhiều vấn đề cử tri quan tâm. UBND các cấp tiếp tục nâng cao năng lực điều hành, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước tại địa phương.
Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết về công tác cải cách hành chính và chỉ đạo thực hiện quyết liệt, tạo được sự chuyển biến rõ nét, nhất là trong giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức và công dân. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi nhũng nhiễu, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp. Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính. Đưa vào vận hành Hệ thống thông tin điện tử một cửa, kết nối liên thông tới cả 3 cấp chính quyền để theo dõi, cập nhật, thống kê, tổng hợp thông tin về tình hình, kết quả giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính của các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện, cấp xã. Các chỉ số về cải cách hành chính (PAR INDEX) , hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) , mức độ sẵn sàng cho ứng dụng công nghệ thông tin (ICT INDEX) được cải thiện.
11. Công tác xây dựng Đảng được quan tâm thường xuyên
11.1. Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức được tăng cường. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đổi mới hình thức, phương pháp nghiên cứu, học tập nghị quyết của Đảng; đề cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết của các cấp ủy và người đứng đầu. Tăng cường công tác nắm bắt, dự báo tình hình và định hướng tư tưởng chính trị. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho đảng viên, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận được quan tâm. Quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đã đổi mới về nội dung và phương thức lãnh đạo, góp phần quan trọng vào việc củng cố, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên, Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo sự thống nhất về tư tưởng chính trị và hành động cách mạng trong toàn Đảng bộ, sự đồng thuận trong xã hội.
Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị đạt nhiều kết quả quan trọng, tạo được sự lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Nhận thức về Đảng và công tác xây dựng Đảng trong cán bộ, đảng viên được nâng lên; tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động của các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên về vấn đề cấp bách phải chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Thông qua việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình, các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên thấy rõ hơn những hạn chế, khuyết điểm của mình để sửa chữa, khắc phục. Ngay trong quá trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã giải quyết được nhiều vấn đề nổi cộm, bức xúc trong Đảng và Nhân dân; tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị để lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng. Qua việc chỉ đạo thực hiện Nghị quyết, các cấp ủy đảng, cán bộ lãnh đạo các cấp có thêm kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính, chế độ công vụ, lề lối làm việc, có tác dụng răn đe, cảnh tỉnh và ngăn chặn các hành vi tiêu cực.
Xây dựng và tổ chức thực hiện các chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị; nghiêm chỉnh chấp hành các quy định về trách nhiệm nêu gương, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.
11.2. Công tác tổ chức cán bộ được triển khai đồng bộ. Việc đổi mới, sắp xếp tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở được chỉ đạo thực hiện quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm, đúng lộ trình gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức và tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, hiệu lực hoạt động của các cơ quan, đơn vị . Đã thực hiện sắp xếp, sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã, thôn .
Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, thực hiện công khai, minh bạch, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ. Cụ thể hóa các quy định, hướng dẫn của Trung ương về công tác tổ chức và cán bộ kịp thời, phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh. Quản lý cán bộ, công chức, viên chức từng bước đi vào nền nếp, chặt chẽ theo phân cấp. Công tác đánh giá cán bộ được quan tâm. Việc quy hoạch cán bộ có tính chủ động cao hơn, mang tính kế thừa và phát triển, theo đúng phương châm “động và mở”, thường xuyên rà soát, bổ sung, làm cơ sở để các cấp ủy lựa chọn bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử. Công tác luân chuyển cán bộ được chú trọng hơn, bước đầu khắc phục được tình trạng cục bộ, khép kín trong công tác cán bộ. Công tác đề bạt, bổ nhiệm và giới thiệu cán bộ ứng cử đảm bảo dân chủ, khách quan, công tâm trong việc lựa chọn nhân sự; nhất là đã cơ bản kiểm soát chặt chẽ, đầy đủ các điều kiện, tiêu chuẩn cán bộ đúng theo quy định. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, điều hành của cán bộ, công chức được quan tâm thường xuyên . Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Từng bước đổi mới phương thức tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ, nhất là người đứng đầu; ưu tiên cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ người dân tộc thiểu số. Khắc phục triệt để những sai phạm trong công tác cán bộ đã được Bộ Chính trị, Ủy ban Kiểm tra Trung ương kết luận.
Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được thực hiện chặt chẽ, thận trọng, đúng quy định, bảo đảm tính toàn diện, công tâm, khách quan, góp phần làm trong sạch nội bộ, xây dựng Đảng vững mạnh. Tiếp tục củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác phát triển tổ chức đảng và đảng viên ở địa bàn thôn, tổ dân phố. Công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể trong trường học, trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước được quan tâm chỉ đạo. Công tác đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên từng bước đi vào thực chất. Chất lượng sinh hoạt chi bộ có chuyển biến tích cực; việc quản lý, phân công nhiệm vụ đảng viên ngày càng chặt chẽ; nội dung sinh hoạt chi bộ được đổi mới, phù hợp với nhiệm vụ chính trị của từng loại hình tổ chức cơ sở đảng. Công tác phát triển đảng viên ngày càng chú trọng về chất lượng.
11.3. Công tác kiểm tra, giám sát tiếp tục được đổi mới, phát huy tác dụng, hiệu quả. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp chủ động đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng. Chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát có trọng tâm, trọng điểm, gắn kiểm tra, giám sát tổ chức đảng với trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, quản lý về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao . Quy trình, phương pháp kiểm tra, giám sát được tiến hành chặt chẽ. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp tập trung kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, nhiều vấn đề, vụ việc nổi cộm, bức xúc được tiến hành kiểm tra, xem xét, không chờ kết luận của các cơ quan thanh tra, điều tra; nhiều lĩnh vực khó, phức tạp, nhạy cảm đã được kiểm tra, kết luận, xử lý nghiêm minh đối với tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, tạo niềm tin trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh . Đồng thời, đã triển khai thực hiện tốt việc khắc phục các tồn tại, hạn chế được chỉ ra sau kiểm tra, giám sát.
11.4. Công tác dân vận có nhiều chuyển biến tích cực. Đã phối hợp, thực hiện đồng bộ, hiệu quả Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở. Công tác lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở gắn với nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân có sự đổi mới và phù hợp với tình hình thực tiễn, nhất là công tác tiếp công dân, đối thoại trực tiếp với công dân, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm, chính đáng của Nhân dân được cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu quan tâm chú trọng. Công tác dân vận chính quyền gắn với cải cách hành chính được quan tâm đúng mức và bước đầu mang lại hiệu quả nhất định. Việc lãnh đạo thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo tạo được sự đồng thuận và ổn định về mặt xã hội; giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp, từng bước xóa bỏ các phong tục tập quán lạc hậu. Qua đó, đã củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, niềm tin của Nhân dân vào Đảng ngày càng được nâng lên.
11.5. Phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đổi mới, hiệu quả. Các tổ chức đảng đã quán triệt và thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Trung ương. Chủ động cụ thể hóa một số chủ trương lớn do Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI đề ra thành những nghị quyết chuyên đề và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết liệt, đem lại hiệu quả cao trong đời sống xã hội.
Thực hiện nghiêm túc Quy chế làm việc của cấp ủy, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Phương thức hoạt động của cấp ủy, tổ chức đảng được đổi mới, bám sát cơ sở, trực tiếp chỉ đạo giải quyết những vấn đề cụ thể phát sinh ở cơ sở; đã phân công từng đồng chí ủy viên ban thường vụ cấp ủy, cấp ủy viên đứng điểm chỉ đạo tại các địa phương. Trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp được phát huy; thường xuyên tổ chức đối thoại trực tiếp, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, doanh nghiệp. Thẩm quyền và trách nhiệm của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị được xác định rõ. Đổi mới quy trình ban hành nghị quyết, chỉ thị, kết luận theo hướng ngắn gọn, thiết thực, rõ việc, rõ trách nhiệm. Việc ứng dụng công nghệ thông tin gắn với cải cách hành chính trong cơ quan đảng có nhiều chuyển biến tích cực.
II. NHỮNG HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM
1. Lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội
Kinh tế giữ được tốc độ tăng trưởng khá nhưng chưa thực sự bền vững, một số chỉ tiêu chưa đạt Nghị quyết đề ra ; chưa khai thác và phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của tỉnh, chưa tạo được bước đột phá về du lịch, dịch vụ, kết nối ngành du lịch với các ngành kinh tế – xã hội khác và các tỉnh, thành phố lân cận. Thực hiện ba nhiệm vụ đột phá không đạt mục tiêu đề ra, việc đầu tư một số công trình hiệu quả còn thấp; hệ thống giao thông chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và du lịch của khu vực miền núi.
Chất lượng tăng trưởng còn nhiều vấn đề cần lưu ý, năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) còn thấp, năng lực cạnh tranh còn hạn chế. Việc đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế trên một số ngành, lĩnh vực mới chỉ là bước đầu. Quy mô sản xuất còn nhỏ, liên kết và hội nhập còn yếu; chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu trong quá trình hội nhập quốc tế; môi trường đầu tư chưa thật sự thông thoáng, hấp dẫn. Một số nhóm dự án trọng điểm vùng Đông Nam chậm triển khai. Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch và phát triển đô thị có nơi thiếu chặt chẽ, nhất là tại khu đô thị mới Điện Nam – Điện Ngọc; chất lượng đô thị Tam Kỳ chưa tương xứng với vai trò thành phố tỉnh lỵ. Tranh chấp, khiếu kiện về đất đai, môi trường, thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư vẫn còn diễn biến phức tạp.
Cơ cấu ngành nông nghiệp chuyển biến chậm; liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị còn hạn chế. Các tiêu chí về xây dựng NTM ở một số địa phương thiếu bền vững, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp còn khá cao, năng suất thấp. Nhân dân miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở 6 huyện miền núi cao của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao.
Việc bình xét các danh hiệu văn hóa còn hình thức, chất lượng không cao. Công tác xã hội hóa đầu tư trên lĩnh vực văn hóa, thể thao gặp nhiều khó khăn. Giáo dục và đào tạo có mặt còn bất cập so với yêu cầu của tiến trình đổi mới, nặng về lý thuyết, nhẹ thực hành. Giáo dục đạo đức, lối sống, rèn luyện thể chất, nhất là đối với thế hệ trẻ có lúc, có nơi chưa được tập trung đúng mức. Chất lượng đào tạo lao động chưa gắn với giải quyết việc làm và đáp ứng nhu cầu của xã hội, của doanh nghiệp. Việc sắp xếp hệ thống trường lớp, cơ sở giáo dục nghề nghiệp gắn với bố trí đội ngũ cán bộ, giáo viên còn chậm. Đội ngũ nhân lực y tế, nhất là nhân lực có trình độ cao và cơ sở vật chất ngành y vẫn còn hạn chế. Năng lực nghiên cứu, phát triển và ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ chưa cao, thiếu gắn kết giữa hoạt động khoa học và công nghệ với khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Công tác quản lý bảo vệ rừng, tài nguyên, khoáng sản, xử lý môi trường, rác thải, nước thải có nơi chưa tốt. Công tác dự báo, đề ra giải pháp chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai, dịch bệnh còn bất cập.
2. Lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại
Xây dựng các tiềm lực trong khu vực phòng thủ thiếu đồng bộ, nhất là các công trình phòng thủ, chiến đấu. Hệ thống chính trị ở cơ sở một số nơi chưa thực sự vững mạnh, khả năng xử lý các tình huống về quốc phòng, an ninh còn lúng túng; một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân có lúc, có nơi biểu hiện mất cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, hoạt động đấu tranh trên không gian mạng còn ít. Tình hình an ninh nông thôn, biên giới, tội phạm tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, khó lường, tinh vi hơn, nhất là loại tội phạm ma túy, cờ bạc, tín dụng đen, tội phạm công nghệ cao, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội phạm hoạt động có tổ chức, tội phạm có yếu tố nước ngoài, trẻ vị thành niên phạm tội… Hợp tác quốc tế kết quả chưa cao.
3. Công tác quản lý nhà nước, phòng, chống tham nhũng, lãng phí và cải cách tư pháp
Công tác quản lý nhà nước ở một số địa phương, đơn vị về quy hoạch, xây dựng cơ bản, bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư, đất đai, khoáng sản, bảo vệ tài nguyên môi trường, quản lý thị trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn lao động… còn một số hạn chế nhất định. Công tác cải cách hành chính gắn với tinh giản bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hiệu quả chưa cao. Việc thực hiện các kết luận, quyết định xử lý thanh tra, kiểm toán; kết luận kiểm tra, giám sát và chấp hành các bản án hành chính đã có hiệu lực pháp luật ở một số nơi còn chậm. Việc tự kiểm tra, phát hiện tham nhũng trong nội bộ các cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa mạnh, tình trạng gây khó khăn, sách nhiễu đối với người dân, doanh nghiệp vẫn còn xảy ra; hiệu quả thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án tham nhũng đạt thấp. Công tác tiếp nhận, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân có nơi, có vụ việc còn chậm.
4. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội
Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội ở một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới. Công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp đoàn viên, hội viên và Nhân dân còn có mặt hạn chế, một số cuộc vận động, phong trào không thật sự thu hút đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân tham gia; một số mô hình, cách làm hay chưa được nhân rộng, lan tỏa. Công tác nắm bắt tình hình, dư luận xã hội; tổng hợp, phản ánh và giám sát việc giải quyết kiến nghị của Nhân dân đôi lúc thiếu kịp thời. Hoạt động giám sát và phản biện xã hội ở một số cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu tham gia xây dựng Đảng và chính quyền vững mạnh.
5. Công tác xây dựng Đảng
Công tác chính trị, tư tưởng có lúc thực hiện chưa đồng bộ và thuyết phục; nắm bắt, dự báo, định hướng tư tưởng, dư luận xã hội có lúc, có nơi thiếu thường xuyên, kịp thời. Chất lượng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên chưa đồng đều. Thiếu chủ động trong công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận trên một số lĩnh vực.
Nhận xét, đánh giá cán bộ vẫn còn là khâu yếu, tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, tính phê bình và tự phê bình của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa cao. Chất lượng đội ngũ cán bộ ở một số lĩnh vực, địa phương chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, có nơi thiếu hụt cán bộ lãnh đạo chủ chốt; tỷ lệ cán bộ lãnh đạo nữ, cán bộ trẻ còn thấp. Công tác quy hoạch, điều động, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ có nơi còn bất cập; đề bạt, bổ nhiệm và giới thiệu cán bộ ứng cử một số trường hợp chưa đảm bảo quy định, dẫn đến sai phạm, có trường hợp phải xử lý kỷ luật một số tập thể, cá nhân và xóa tên đảng viên. Một số cấp ủy ít chú trọng đến công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn yếu, cá biệt có nơi tinh thần đoàn kết thống nhất còn hạn chế; phương thức lãnh đạo, phương pháp hoạt động chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới; trách nhiệm, quyền hạn của tập thể và cá nhân có lúc chưa rõ. Phát triển đảng viên mới không đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra .
Công tác kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm có nơi thiếu kiên quyết, kịp thời; tính giáo dục, ngăn ngừa còn hạn chế. Các cuộc kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên gắn với trách nhiệm người đứng đầu chưa nhiều. Việc xử lý kỷ luật đảng, chính quyền và đoàn thể trong một số trường hợp chưa đồng bộ. Công tác phối hợp, trao đổi thông tin phục vụ công tác kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan liên quan với ủy ban kiểm tra chưa thường xuyên, hiệu quả thấp.
Một số cấp ủy, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của công tác dân vận, chưa huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong thực hành dân vận. Công tác dân vận chính quyền hiệu quả còn thấp, nhất là trong giải phóng mặt bằng, tái định cư, cải cách hành chính. Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở có nơi còn hình thức; một số vấn đề khó khăn, bức xúc của người dân chậm được giải quyết.

III. NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Nguyên nhân
1.1. Nguyên nhân đạt được những thành tựu
Những thành quả đạt được 5 năm qua có nhiều nguyên nhân, trong đó có một số nguyên nhân chủ yếu sau:
Ngay sau Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, HĐND tỉnh đã chủ động ban hành kịp thời nhiều chủ trương quan trọng, phù hợp với tình hình thực tiễn trên hầu hết các lĩnh vực, UBND tỉnh đã xây dựng những chương trình, kế hoạch cụ thể để thực hiện; nhờ đó, tạo sự chuyển biến rõ nét trong việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Các cấp ủy đảng, chính quyền trong tỉnh đã quán triệt, thực hiện tốt các chủ trương của Trung ương, của tỉnh vào tình hình thực tế của địa phương; tranh thủ được sự lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ kịp thời của các ban, bộ, ngành Trung ương. Đảng bộ luôn giữ vững truyền thống đoàn kết, phát huy bản sắc văn hóa, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong quá trình lãnh đạo.
Trong chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ chính trị, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị – xã hội các cấp đã có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và đề ra chương trình, kế hoạch cụ thể, trọng tâm, trọng điểm; quyết liệt tổ chức, vận động cán bộ, đảng viên và Nhân dân thực hiện.
Các cấp ủy, tổ chức đảng đã có những giải pháp thiết thực để xây dựng tổ chức cơ sở đảng, thể hiện được vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát. Đa số cán bộ, đảng viên có phẩm chất chính trị vững vàng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính tiên phong gương mẫu, nói đi đôi với làm, dám chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhân dân và đối với công việc được giao.
Thực hiện tốt công tác dân vận, nắm vững và định hướng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội; mở rộng, phát huy dân chủ, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân và thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các tổ chức đoàn thể luôn quan tâm đổi mới nội dung, phương thức hoạt động. Đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận các cấp phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động, tích cực tham mưu cho cấp ủy những vấn đề sát với thực tế, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ được giao.
1.2. Nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm
– Nguyên nhân khách quan
Tình hình kinh tế của tỉnh những năm cuối nhiệm kỳ tăng trưởng chậm do một số cơ chế, chính sách, quy định của Luật chậm được cụ thể hóa, vướng mắc trong bồi thường, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, giao đất… đã tác động đến môi trường đầu tư, nhiều dự án không triển khai được; cạnh tranh ngày càng quyết liệt ở một số ngành, nhất là công nghiệp ô tô; ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 trên toàn cầu. Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ, rất nhỏ.
Địa bàn tỉnh rộng, địa hình phức tạp, 06 huyện miền núi cao còn khó khăn, hạ tầng chưa thật sự đồng bộ; thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai, biến đổi khí hậu, dịch bệnh. Mời gọi các nhà đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp còn khó khăn.
Kết nạp đảng viên mới không đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra do số lượng thanh niên, quần chúng ưu tú ở địa phương ngày càng giảm do dịch chuyển lao động, một số không có nguyện vọng đứng vào hàng ngũ của Đảng. Công tác quản lý đảng viên gặp khó khăn ở một số địa bàn dân cư, khu vực doanh nghiệp tư nhân.
– Nguyên nhân chủ quan
Công tác dự báo một số chỉ tiêu thiếu chính xác. Việc xây dựng các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án phát triển kinh tế – xã hội chất lượng không cao, triển khai thực hiện còn hạn chế. Một số ngành kinh tế chủ yếu phát triển thiếu bền vững. Chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế của tỉnh để thu hút các dự án đầu tư quy mô lớn, nhiều dự án chậm tiến độ, đầu tư còn dàn trải. Một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số hiệu quả thấp; một bộ phận đồng bào còn thụ động, trông chờ, ỷ lại. Việc đánh giá các tiêu chí công nhận xã nông thôn mới còn hình thức, chạy theo thành tích, không sát thực tế. Việc kiểm soát ô nhiễm môi trường một số nơi thiếu chặt chẽ.
Chất lượng công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực không đạt mục tiêu đề ra, nhất là đội ngũ trí thức khoa học. Thiếu cơ chế, chính sách để thu hút và phát huy đội ngũ chuyên gia giỏi. Chưa khai thác hết các ý tưởng đổi mới, sáng tạo.
Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền có nơi, có mặt còn hạn chế. Việc kiểm soát quyền lực, giám sát quá trình thực thi công vụ chưa nghiêm. Công tác giáo dục, giác ngộ mục tiêu, lý tưởng của Đảng cho thế hệ trẻ có nơi chưa tốt, hiệu quả thấp. Tính tiên phong gương mẫu của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trách nhiệm nêu gương của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý còn hạn chế nhưng chậm được chấn chỉnh, xử lý. Chất lượng một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
2. Bài học kinh nghiệm
Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
Một là, chăm lo củng cố, xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh; giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy; bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ từ tỉnh đến cơ sở, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm những vi phạm, góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng; quan tâm công tác nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, thường xuyên sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm.
Hai là, xây dựng, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân và đồng thuận trong toàn xã hội, “lấy dân làm gốc”; huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị; làm tốt công tác vận động quần chúng, thông tin tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội trong việc xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Ba là, đổi mới phương thức lãnh đạo, điều hành; vận dụng linh hoạt, sáng tạo các cơ chế, chính sách phù hợp với tình hình thực tiễn; xác định đúng những nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp đột phá để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển, tạo động lực lan tỏa phát triển kinh tế – xã hội giữa các vùng của tỉnh. Tập trung xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Phát huy vai trò, trách nhiệm, tính tiên phong gương mẫu của người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ và trách nhiệm, đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Bốn là, phát huy tối đa các tiềm năng, nội lực của địa phương, tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương về cơ chế, chính sách ưu đãi, đặc thù; sự phối hợp, giúp đỡ của các ban, bộ, ngành Trung ương, Quân khu 5 và hợp tác của các địa phương trong vùng, bạn bè quốc tế trong quá trình xây dựng, phát triển.
Năm là, phát huy các lợi thế so sánh, liên kết phát triển vùng, phát triển bền vững, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Phát huy các thành phần kinh tế, nhất là khu vực kinh tế tư nhân. Gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, công bằng xã hội. Tăng cường bảo vệ và cải thiện môi trường để phát triển bền vững.
Sáu là, đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, tạo thuận tiện tối đa cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp về thủ tục hành chính. Phân cấp, ủy quyền gắn liền với xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn trong quản lý, điều hành.
3. Đánh giá tổng quát
Trong nhiệm kỳ qua, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam đã phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất, lãnh đạo thực hiện đạt và vượt phần lớn các chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI đề ra. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) hằng năm luôn duy trì ở mức khá. Văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, công tác giảm nghèo bền vững được thực hiện quyết liệt; các chính sách an sinh xã hội được bảo đảm; chất lượng cuộc sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Văn hóa xã hội có bước phát triển tốt, quốc phòng, an ninh được giữ vững, chính trị ổn định. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị đạt được nhiều kết quả quan trọng. Sự đoàn kết, thống nhất, phối hợp đồng bộ giữa Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội được tăng cường. Vị thế của tỉnh ngày càng được khẳng định và có một số chỉ tiêu cơ bản đạt tỉnh khá của cả nước. Những thành quả đạt được trong nhiệm kỳ qua có ý nghĩa hết sức quan trọng, khẳng định sự đúng đắn đường lối đổi mới của Đảng, các nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; là động lực quan trọng để phát triển Quảng Nam nhanh, bền vững hơn nữa trong thời gian tới.

PHẦN THỨ HAI

PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN QUẢNG NAM ĐẾN NĂM 2025, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
I. DỰ BÁO BỐI CẢNH TÌNH HÌNH TRONG 05 NĂM ĐẾN

Tình hình thế giới sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, nhưng hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số sẽ tác động sâu rộng đến từng quốc gia. Trong nước, ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô tiếp tục là nền tảng quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước. Việc tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới được kỳ vọng sẽ mang lại nhiều cơ hội phát triển kinh tế cho Việt Nam. Tuy nhiên, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước ta. Tình hình Biển Đông diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường. Các thách thức phi truyền thống, an ninh mạng cũng như những khó khăn do thiên tai, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, nhất là tác động của đại dịch Covid-19; chất lượng dân số còn thấp và xu hướng già hóa dân số là những thách thức rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta trong thời gian đến.
Đối với tỉnh Quảng Nam, những thành tựu đạt được qua các thời kỳ là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển trong thời gian đến. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, vẫn còn không ít khó khăn, thách thức; trong đó, đại dịch Covid-19 đã, đang và sẽ tiếp tục tác động rất mạnh đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế – xã hội của tỉnh, nhất là ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, thu chi ngân sách, đầu tư và thương mại, làm gián đoạn các chuỗi giá trị sản xuất quan trọng, suy giảm tiêu dùng, dịch vụ và du lịch…, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; trình độ, năng suất lao động; hệ thống kết cấu hạ tầng chưa tương xứng với mục tiêu thu hút vốn đầu tư; các thế lực chống phá quyết liệt dựa vào sự phát triển nhanh của không gian mạng cũng là thách thức không nhỏ, đòi hỏi Đảng bộ tỉnh phải tiếp tục đề ra những giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, hiệu quả mới có thể đưa Quảng Nam phát triển nhanh và bền vững trong những năm đến.
II. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT, CÁC CHỈ TIÊU CỤ THỂ GIAI ĐOẠN 2020 – 2025, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
1. Mục tiêu tổng quát
Xây dựng Đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh, hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, bản sắc văn hóa và truyền thống cách mạng; cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động xã hội; huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển kinh tế nhanh, bền vững; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân, bảo vệ tốt môi trường sinh thái; tăng cường quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế; phấn đấu đưa Quảng Nam trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước vào năm 2030.
2. Các nhóm chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2020 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030
2.1. Các chỉ tiêu về kinh tế
(1) Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân hằng năm từ 7,5 – 8%.
(2) GRDP bình quân đầu người đến năm 2025 từ 110 – 113 triệu đồng.
(3) Thu ngân sách trên địa bàn tăng bình quân hằng năm 9% (trong đó, thu nội địa tăng bình quân 10%/năm, thu xuất nhập khẩu tăng bình quân 4%/năm).
(4) Tỷ trọng các ngành trong GRDP đến năm 2025: Công nghiệp – xây dựng từ 35,8 – 36%; dịch vụ từ 37,2 – 37,3%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp từ 17,5 – 17,4%; nông, lâm nghiệp, thủy sản từ 9,5 – 9,3%. Đến năm 2030: Công nghiệp – xây dựng 35,5% (trong đó, công nghiệp 28,7%); dịch vụ 37%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp 19,3%; nông, lâm nghiệp, thủy sản 8,1%.
(5) Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2025 khoảng 37%; trong đó, phấn đấu xây dựng thành phố tỉnh lỵ Tam Kỳ cơ bản đạt các tiêu chí của đô thị loại I vào năm 2025, từng bước xây dựng đô thị sinh thái, thông minh và đạt tiêu chí đô thị loại I vào năm 2030. Đến năm 2030, tỷ lệ đô thị hóa khoảng 40%.
(6) Tỷ lệ thôn có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa vào năm 2025 trên 99%.
(7) Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội so với GRDP đến năm 2025 là trên 30%.
(8) Số lượt khách du lịch đến năm 2025 đạt khoảng 12 triệu lượt khách.
2.2. Các chỉ tiêu về xã hội
(9) Phấn đấu đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo của toàn tỉnh giảm còn 2,87% (trong đó, tỷ lệ hộ nghèo thuộc đối tượng bảo trợ xã hội khoảng 1,83%) .
(10) Đến năm 2025, có 160 xã, chiếm 80% số xã đạt chuẩn NTM (trong đó, 64 xã đạt chuẩn NTM nâng cao, 16 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu); không còn huyện không có xã đạt chuẩn NTM, không còn xã đạt dưới 15 tiêu chí; có 09 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn NTM (trong đó, có 02 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn NTM nâng cao và NTM kiểu mẫu); phấn đấu trở thành tỉnh đạt chuẩn NTM trước năm 2035.
(11) Thu nhập bình quân đầu người tính theo thu nhập thực tế đến năm 2025 từ 68 – 70 triệu đồng.
(12) Năng suất lao động xã hội bình quân từ 188 – 192 triệu đồng/lao động/năm.
(13) Đến năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 70 – 75%; trong đó, tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35%; số lao động có việc làm tăng thêm 80.000 người.
(14) Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đến năm 2025 từ 71 – 72%.
(15) Đến năm 2025, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 96%; có 12 bác sỹ/01 vạn dân; 43,6 giường bệnh/01 vạn dân; tỷ lệ trẻ em dưới 05 tuổi suy dinh dưỡng thể thấp còi còn 20%.
(16) Đến năm 2025, có 70% trường mầm non, 95% trường tiểu học, 80% trường trung học cơ sở, 60% trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia.
(17) Đến năm 2025, trên địa bàn tỉnh không còn nhà tạm bợ .
2.3. Các chỉ tiêu về môi trường
(18) Đến năm 2025, tỷ lệ che phủ rừng đạt 61%.
(19) Đến năm 2025, tỷ lệ dân đô thị được sử dụng nước sạch đạt 90%.
(20) Đến năm 2025, 100% các khu công nghiệp đang hoạt động và 50% số cụm công nghiệp có tỷ lệ lấp đầy trên 50% có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn về môi trường.
(21) Đến năm 2025, không phát sinh mới các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và 100% các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nằm trong danh mục được khắc phục ô nhiễm và đưa ra khỏi danh mục.
(22) Đến năm 2025, 100% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại các đô thị và 95% tại các điểm dân cư nông thôn được thu gom và xử lý; 95% chất thải rắn công nghiệp thông thường, 80% chất thải nguy hại, 100% chất thải rắn y tế được thu gom và xử lý.
2.4. Các chỉ tiêu về xây dựng Đảng; quốc phòng, an ninh
(23) Hằng năm, số đảng viên được kết nạp từ 1.500 đảng viên trở lên; số đảng viên được xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt tỷ lệ từ 90% trở lên; số tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ từ 90% trở lên, không có tổ chức cơ sở đảng không hoàn thành nhiệm vụ.
(24) Công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ, giao quân hằng năm đạt 100% chỉ tiêu giao; 100% xã, phường, thị trấn vững mạnh về quốc phòng, an ninh, trên 70% xã, phường, thị trấn vững mạnh toàn diện.
III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
1. Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh
1.1. Tăng cường công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và đạo đức
Nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cụ thể hóa kịp thời các chủ trương, quan điểm của Đảng phù hợp với tình hình thực tế của Quảng Nam. Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, quán triệt, học tập, triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, tinh thần phục vụ Nhân dân của cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, lòng yêu quê hương, đất nước, nuôi dưỡng khát vọng, hoài bão vì nước Việt Nam hùng cường trong mọi tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Xây dựng và thực hiện tốt các quy định để phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và cán bộ chủ chốt các cấp; có cơ chế thực hiện hiệu quả việc kiểm tra, giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và nhân rộng những mô hình hay, cách làm hiệu quả, gương điển hình, tiên tiến.
1.2. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức, cán bộ
Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy đảng và người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tổ chức, cán bộ. Đổi mới mạnh mẽ công tác đánh giá, sử dụng cán bộ theo hướng lấy phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ các mặt, uy tín và hiệu quả công tác làm căn cứ và tiêu chí cơ bản. Tạo môi trường thuận lợi phát huy cao nhất năng lực cán bộ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, khuyến khích, trọng dụng cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.
Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện các quy định, quy trình về công tác cán bộ; xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu. Tổng kết thực tiễn, ban hành nghị quyết mới về công tác cán bộ theo hướng chú trọng tính dài hạn, chiến lược; thực hiện tốt quy hoạch cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số và đội ngũ cán bộ dự nguồn chất lượng cao cho các nhiệm kỳ kế tiếp. Cơ cấu, sắp xếp lại hợp lý đội ngũ cán bộ theo vị trí việc làm, khung năng lực, bảo đảm đúng người, đúng việc, giảm số lượng, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác. Đẩy mạnh thực hiện chủ trương luân chuyển cán bộ; tăng cường bố trí cán bộ lãnh đạo các huyện phía Tây của tỉnh theo hướng đa văn hóa để phát triển. Rà soát, sàng lọc, kịp thời thay thế những cán bộ năng lực hạn chế, uy tín thấp, không đủ sức khỏe, có sai phạm, không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, đến tuổi nghỉ hưu. Hoàn thiện các quy định, chính sách thu hút nhân tài, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn cán bộ chất lượng cao. Thực hiện thi tuyển một số chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý; thực hiện nghiêm Quy định về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền.
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy đảng, nhất là tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên. Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức đảng trực thuộc đảng ủy xã, phường, thị trấn; mô hình tổ chức đảng trong các loại hình doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị sự nghiệp. Tiếp tục tăng cường công tác xây dựng Đảng, đoàn thể trong trường học và trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước; phát triển đảng viên mới đảm bảo yêu cầu về số lượng, chất lượng; chú ý quan tâm phát triển đảng viên trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo đạo. Quản lý chặt chẽ đội ngũ đảng viên; tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên đi nước ngoài và có mối quan hệ với tổ chức, cá nhân người nước ngoài; rà soát, sàng lọc đưa những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng.
Thực hiện tốt các quy định về bảo vệ chính trị nội bộ, chú trọng vấn đề chính trị hiện nay, quản lý đầu vào và sử dụng cán bộ theo đúng nguyên tắc của Đảng. Không để cán bộ, đảng viên bị oan sai, không để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc, chống phá.
1.3. Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng
Tăng cường phổ biến, tuyên truyền công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, quyết tâm hành động của các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp, tích cực đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Tổng kết thực tiễn, ban hành Nghị quyết chuyên đề về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ tỉnh; nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát; kịp thời cụ thể hóa các quy định, hướng dẫn của Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, đơn vị.
Thực hiện chủ trương giám sát theo hướng mở rộng, kiểm tra theo hướng có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng kiểm tra, giám sát công tác cán bộ; các lĩnh vực dễ xảy ra sai phạm ; các địa phương, đơn vị có vấn đề nổi cộm bức xúc, được dư luận quan tâm; gắn kiểm tra, giám sát tập thể với trách nhiệm người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, kết hợp chặt chẽ giữa kiểm tra, giám sát thường xuyên và kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Tập trung xem xét, giải quyết dứt điểm đơn thư khiếu nại, tố cáo, xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng và đảng viên vi phạm. Phát huy trách nhiệm của các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy và các cơ quan phối hợp trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Tập trung củng cố, kiện toàn tổ chức, bộ máy ủy ban kiểm tra các cấp; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp.
1.4. Tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác dân vận của Đảng
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng về công tác dân vận trong tình hình mới. Cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương về công tác dân vận phù hợp với tình hình thực tế. Tăng cường kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng về công tác dân vận.
Lãnh đạo thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở; tiếp tục phát huy vị trí, vai trò của công tác dân vận chính quyền, gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính. Giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật, nâng cao phẩm chất đạo đức, ý thức phục vụ Nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, trước hết là người đứng đầu cơ quan, đơn vị.
Lãnh đạo thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương. Tăng cường đối thoại, tiếp xúc với Nhân dân, sâu sát cơ sở, lắng nghe tâm tư, kịp thời giải quyết nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo” gắn với các phong trào thi đua yêu nước; tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng các mô hình, điển hình về công tác dân vận.
Quán triệt và thực hiện đầy đủ, trách nhiệm, nghiêm túc chủ trương, quan điểm của Đảng về công tác dân tộc, tôn giáo.
1.5. Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng
Giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng ở các cấp ủy đảng, nâng cao phương thức lãnh đạo của Đảng trên cơ sở đổi mới công tác tổ chức và cán bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; thực hiện các nguyên tắc của Đảng, trọng tâm là phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên. Nêu cao tính chủ động, sáng tạo của các cấp ủy, tổ chức đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng.
Đổi mới việc xây dựng, ban hành nghị quyết của Tỉnh ủy và các cấp ủy theo hướng đẩy mạnh hơn nữa vai trò chủ thể của Nhân dân, lấy việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho Nhân dân làm mục tiêu xuyên suốt trong quá trình hoạch định chính sách. Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng gắn với phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể cho tập thể, cá nhân có liên quan.
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp, phong cách, lề lối làm việc trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ tỉnh đến cơ sở, xây dựng và thực hiện phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, bám sát thực tiễn, chịu khó học hỏi, nói đi đôi với làm. Phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu và cán bộ chủ chốt các cấp; tăng cường đi cơ sở, đối thoại với Nhân dân, chỉ đạo tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc, những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn. Đẩy mạnh ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin, cải cách hành chính và xây dựng văn hóa trong các cơ quan đảng.
2. Đẩy mạnh 03 nhiệm vụ đột phá chiến lược: Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ và phát triển đô thị; chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; cải thiện môi trường đầu tư và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
2.1. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ và phát triển đô thị
Tổ chức, thực hiện tốt công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch đô thị, khu công nghiệp để sẵn sàng đón nhận nhà đầu tư mới trong nước, nước ngoài. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, đa dạng hóa hình thức đầu tư để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, tập trung cho các công trình, dự án quan trọng, có sức lan tỏa, tạo động lực thúc đẩy phát triển và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống Nhân dân. Từng bước xây dựng, nâng cấp các tuyến đường giao thông khớp nối theo quy hoạch; xây dựng các công trình cầu vượt sông, cầu vượt đường sắt, cầu vượt Quốc lộ 1A, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế – xã hội.
Tập trung xây dựng đô thị đạt các tiêu chí theo quy hoạch, cùng với nâng cao chất lượng các đô thị hiện có; mở rộng không gian phát triển đô thị ở những nơi có điều kiện, nhất là đô thị tỉnh lỵ. Xây dựng chương trình phát triển đô thị, các chuỗi đô thị gắn kết tương hỗ trong toàn tỉnh và kết nối với các tỉnh, thành phố lân cận. Phát triển đô thị theo hướng đô thị thông minh và đô thị sinh thái, gắn với phát triển du lịch. Quản lý chặt chẽ, công khai, minh bạch thị trường bất động sản trên địa bàn tỉnh.
2.2. Chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Chủ động tham gia tích cực, có lộ trình nhằm ứng dụng hiệu quả những thành tựu cơ bản, thiết thực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trên tất cả các ngành, lĩnh vực và thúc đẩy chuyển đổi số của bộ máy công vụ, quản lý nhà nước, dữ liệu dân cư để hướng đến phát triển kinh tế số; phấn đấu xây dựng đô thị thông minh, chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số.
Khuyến khích phát triển thị trường lao động, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, chính sách đào tạo, thu hút, tuyển dụng và sử dụng nhân tài; tạo môi trường làm việc thuận lợi, đồng thời với việc đào tạo về năng lực tiếp cận, tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng với môi trường công nghệ hiện đại. Khuyến khích và ưu đãi đối với mọi tổ chức, cá nhân tham gia trực tiếp vào quá trình giáo dục và đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, tạo ra sản phẩm và nguồn nhân lực chất lượng cao. Chuẩn hoá và tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước các cấp, từng bước thích ứng với môi trường công nghệ số.
2.3. Cải thiện môi trường đầu tư và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
Tiếp tục thực hiện mạnh mẽ cải cách hành chính; công khai, minh bạch tất cả thông tin, thủ tục hành chính, kiên quyết loại bỏ chi phí không chính thức; tạo môi trường đầu tư thật sự thông thoáng, hấp dẫn. Nâng cao năng lực thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư; chủ động tạo quỹ đất sạch để thu hút các nhà đầu tư chiến lược. Đẩy mạnh thu hút, mời gọi nhà đầu tư có quy mô lớn, thương hiệu để đầu tư dự án then chốt trên các lĩnh vực với công nghệ hiện đại, hàm lượng trí tuệ cao, thân thiện với môi trường, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, sản phẩm mang lợi thế cạnh tranh cao, có thể tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; đồng thời, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách. Ưu tiên khuyến khích các dự án phát triển năng lượng tái tạo. Có chính sách thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào khu vực nông thôn, miền núi. Đề ra các giải pháp tháo gỡ khó khăn sau đại dịch Covid-19 như: Rà soát các dự án chậm triển khai, hoạt động không hiệu quả để thu hồi, tạo quỹ đất để thu hút các dự án đầu tư mới có nhu cầu dịch chuyển sản xuất; rà soát chuẩn bị các điều kiện mặt bằng, đất đai hạ tầng, lao động, năng lượng… để sẵn sàng đón dòng vốn đầu tư dịch chuyển.
Xây dựng đề án hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cho mọi thành phần kinh tế, hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; xây dựng văn hóa khởi nghiệp và thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội. Tăng cường tuyên truyền, vận động, trang bị kiến thức, kỹ năng về khởi nghiệp sáng tạo cho cán bộ và các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.
3. Phát triển mạnh kinh tế biển và vùng đồng bằng ven biển của tỉnh; tập trung nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội vùng trung du, miền núi
3.1. Đối với vùng đồng bằng ven biển
Chú trọng đầu tư phát triển vùng ven biển của tỉnh trở thành chuỗi đô thị – trung tâm dịch vụ, du lịch – công nghiệp sạch – nông nghiệp công nghệ cao; bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử; phục hồi hệ sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu. Phấn đấu đưa kinh tế biển và vùng ven biển của tỉnh phát triển mạnh, giữ vai trò chủ lực trong nền kinh tế gắn với củng cố quốc phòng, an ninh, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo.
Tổ chức lại và thúc đẩy triển khai nhanh hơn, đưa vào hoạt động có hiệu quả tất cả các nhóm dự án trọng điểm vùng Đông Nam. Phát triển các Trung tâm thương mại – dịch vụ gắn với đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, các khu du lịch – dịch vụ sinh thái, vui chơi, nghỉ dưỡng cao cấp ven biển quy mô lớn với các sản phẩm đặc thù… thông qua việc ưu tiên tập trung thu hút các nhà đầu tư chiến lược, tầm cỡ quốc tế. Đẩy mạnh thu hút các dự án du lịch vui chơi, giải trí, chăm sóc sức khỏe, du lịch nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các làng nghề truyền thống, phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo; đảm bảo sinh kế bền vững cho Nhân dân khu vực đồng bằng ven biển.
Hình thành những khu dân cư, khu tái định cư, nhất là khu vực các địa phương ven biển và các cửa sông nhằm hạn chế thiệt hại thiên tai gây ra và thích ứng với biến đổi khí hậu, hình thành những khu dân cư, khu đô thị văn minh, từng bước hiện đại với kết cấu hạ tầng đồng bộ. Qua đó, tạo quỹ đất sạch để thu hút các dự án quy mô lớn có sức lan tỏa, thúc đẩy phát triển toàn vùng.
3.2. Đối với khu vực trung du, miền núi
Triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Quốc hội và Đề án của Chính phủ về phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Tập trung tạo đột phá trong thực hiện các nhóm dự án lớn tại vùng Tây của tỉnh. Khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của khu vực miền núi, huy động tối đa các nguồn lực để phát triển bền vững kinh tế – xã hội; chú trọng đầu tư kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông kết nối giữa đồng bằng và miền núi, tạo động lực cho phát triển và các công trình công cộng, phúc lợi cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Hoàn thành việc bố trí, sắp xếp, ổn định dân cư, phát triển sản xuất gắn với xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững, phù hợp với điều kiện địa hình, kinh tế, văn hóa miền núi.
Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng hàng hóa cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Cải thiện sinh kế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân khu vực trung du, miền núi. Thực hiện tốt công tác giảm nghèo bền vững, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cảnh quan thiên nhiên, gắn với phát triển kinh tế du lịch. Tiếp tục tăng cường công tác bảo vệ rừng, bảo vệ hệ sinh thái, đa dạng sinh học.
Tập trung phát triển trồng rừng sản xuất, chú trọng và tạo chuyển biến rõ nét về trồng rừng gỗ lớn, phát triển cây nguyên liệu, dược liệu, sâm Ngọc Linh và lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng để nâng cao thu nhập cho người dân, hạn chế thấp nhất tác động trái phép đến rừng. Chú trọng việc tạo ra quỹ đất sản xuất cho người dân, phát triển rừng thay thế. Tập trung phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại; hình thành một số vùng nguyên liệu, phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng nâng cao năng suất, hiệu quả và kiểm soát môi trường. Đồng thời, chú trọng đầu tư hình thành các mô hình liên kết chuỗi từ bảo quản, chế biến, tiêu thụ đến tổ chức sản xuất… nhằm giải quyết ổn định đầu ra cho sản phẩm chủ yếu của Nhân dân các huyện miền núi.
Hỗ trợ đầu tư hạ tầng, khôi phục và phát triển các làng nghề để tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương. Khuyến khích phát triển các loại hình du lịch sinh thái, văn hóa, lịch sử, cộng đồng, du lịch làng nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số, du lịch vùng Sâm… Hình thành các sản phẩm du lịch mới, độc đáo; hình thành liên kết phát triển du lịch vùng Đông – Tây của tỉnh nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch.
Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ đầu ra cho sản xuất nông lâm nghiệp. Xây dựng các điểm, cụm công nghiệp, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, cơ sở chế biến lâm sản, phát triển cây công nghiệp, cây nguyên, dược liệu, cây ăn quả và một số cây bản địa có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của từng địa phương, những nơi có điều kiện mặt bằng, giao thông thuận lợi để chế biến sâu, nâng cao giá trị kinh tế cho sản phẩm; kết hợp xây dựng các mô hình mẫu để hướng dẫn và nhân rộng trong Nhân dân, từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm đặc trưng của miền núi.
Thực hiện tốt công tác kết nghĩa, hỗ trợ, giúp đỡ các xã biên giới, đất liền; nâng cao chất lượng công tác kết nghĩa, giúp phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững.
3.3. Tham gia liên kết với các địa phương trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung góp phần phát triển kinh tế – xã hội
Tích cực tham gia vào liên kết phát triển vùng theo quy hoạch mới phân vùng nhằm khai thác tối đa lợi thế của từng địa phương, chia sẻ lợi ích lâu dài, chia sẻ hạ tầng chung, cùng nâng cao vị thế vùng. Liên kết trong phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, nâng cao chất lượng thương mại, du lịch và dịch vụ, khoa học và công nghệ của vùng nhằm thúc đẩy phát triển đối với từng địa phương trong vùng; đặc biệt, đẩy mạnh liên kết và hợp tác với thành phố Đà Nẵng để trong tương lai trở thành một trong những trung tâm quan trọng, động lực thúc đẩy phát triển của miền Trung – Tây Nguyên và cả nước về du lịch, dịch vụ, công nghiệp và nông nghiệp chất lượng cao…
Tập trung cải thiện môi trường du lịch, đảm bảo xanh, sạch, đẹp, văn minh, thân thiện, an toàn; đồng thời, phát triển các sản phẩm du lịch đa dạng, có chiều sâu, chất lượng, giá trị trải nghiệm cao, hình thành các tuor du lịch vùng.
3.4. Phát triển Khu kinh tế mở Chu Lai giai đoạn mới đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, phấn đấu trở thành khu kinh tế động lực của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và cả nước
Tiếp tục xây dựng Khu kinh tế mở Chu Lai theo mô hình khu kinh tế tổng hợp, bao gồm các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu phi thuế quan… Lấy cơ chế mở làm tư tưởng đột phá xuyên suốt và được xem xét điều chỉnh thích ứng với thị trường toàn cầu, đưa Khu kinh tế mở Chu Lai trở thành đầu tàu thúc đẩy sự phát triển của tỉnh và động lực kết nối phát triển Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
Tổ chức phát triển các ngành, lĩnh vực phù hợp với định hướng phát triển không gian xây dựng Khu kinh tế mở Chu Lai theo điều chỉnh quy hoạch chung được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Thúc đẩy và tập trung nguồn lực để triển khai kết cấu hạ tầng trọng điểm, chiến lược . Tiếp tục thu hút phát triển trung tâm cơ khí công nghiệp ô tô, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp khí – điện, hóa dầu, công nghiệp – dịch vụ hậu cần cảng biển, sân bay. Thúc đẩy phát triển khu phức hợp ô tô Chu Lai – Trường Hải tại Khu công nghiệp Tam Hiệp, Tam Anh có quy mô ngang tầm khu vực, tạo ra sản phẩm ô tô có công nghệ phù hợp, đạt tiêu chuẩn quốc tế và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, gắn với phát triển mạnh ngành công nghiệp hỗ trợ, nhất là ngành nghề cơ khí hỗ trợ nông nghiệp, xây dựng và thiết bị công nghiệp; tiến đến hình thành Trung tâm cơ khí đa dụng và ô tô quốc gia, làm động lực lan tỏa cho cả Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Phát triển công nghiệp dệt may và hỗ trợ ngành dệt may theo chiều sâu gắn với phát triển đô thị Tam Kỳ. Mở rộng diện tích Khu công nghiệp Đông Nam Thăng Bình theo quy hoạch, thu hút phát triển các ngành công nghiệp sạch, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệ cao. Thúc đẩy sớm hình thành khu công nghiệp chuyên nông – lâm nghiệp nhằm thu hút các dự án công nghiệp chế biến, bảo quản sản phẩm phục vụ xuất khẩu quy mô lớn.
Phát triển dịch vụ tài chính, các nhóm dự án dịch vụ vận tải, hậu cần cảng và logistics gắn với cảng biển và sân bay Chu Lai. Phấn đấu xây dựng Khu kinh tế mở Chu Lai trở thành trung tâm tài chính và dịch vụ logistics của vùng.
4. Cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ – du lịch
4.1. Cơ cấu lại nền kinh tế của tỉnh phải gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội, nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tăng thu nhập thực tế cho Nhân dân ; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển song song ngành công nghiệp và dịch vụ, trong đó, lấy phát triển dịch vụ – du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn. Phấn đấu đến năm 2030 là tỉnh có cơ cấu kinh tế thương mại dịch vụ – công nghiệp xây dựng – nông nghiệp.
Đối với cơ cấu ngành kinh tế, thay đổi cơ cấu ngành kinh tế truyền thống sang cơ cấu ngành kinh tế hiện đại, phát triển bền vững theo chiều sâu, chủ yếu dựa vào lợi thế đổi mới công nghệ, thân thiện môi trường, ít hao tốn tài nguyên, năng suất và giá trị gia tăng cao.
Đối với cơ cấu thành phần kinh tế, cần cải thiện cơ chế, môi trường đầu tư để thúc đẩy mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước chỉ đảm bảo hiệu quả trong cung cấp các dịch vụ công và phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ.
Đối với cơ cấu vùng kinh tế, phát triển theo đúng quy hoạch và định hướng đã đề ra, ưu tiên đầu tư cho vùng động lực phía Đông của tỉnh, nhưng phải đảm bảo sự kết nối, tương hỗ phát triển với vùng Tây. Trong dài hạn tăng dần đầu tư cho vùng Tây để giảm dần khoảng cách phát triển giữa 2 vùng.
4.2. Phát triển dịch vụ – du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Tập trung phát triển những ngành dịch vụ có hàm lượng trí tuệ và công nghệ cao , tạo đột phá để thu hút nhiều hơn vốn đầu tư của tư nhân, vốn đầu tư nước ngoài vào những ngành dịch vụ. Chú trọng phát triển các ngành dịch vụ có khả năng thúc đẩy sự phát triển một số ngành công nghiệp trọng yếu và cùng tham gia hình thành chuỗi giá trị.
Tiếp tục phát triển mạnh mẽ lĩnh vực du lịch, đẩy mạnh xã hội hóa, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, nhất là chuỗi liên kết du lịch đáp ứng bộ tiêu chuẩn du lịch quốc tế, đi đôi với bảo tồn, phát triển di tích, di sản, nhất là di sản văn hóa thế giới Đô thị cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn, khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An, cảnh quan thiên nhiên, quảng bá hình ảnh, văn hóa con người Quảng Nam. Quan tâm phát triển du lịch về phía Nam và phía Tây của tỉnh, ưu tiên phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch sự kiện, du lịch nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe… Đẩy mạnh liên kết khu vực, hình thành các tour, tuyến du lịch chung giữa các tỉnh, khu vực ASEAN và các nước. Chuyển ưu tiên từ thu hút số lượng du khách sang chất lượng du khách và doanh thu du lịch.
4.3. Phát triển công nghiệp bền vững theo chiều sâu, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng phát triển công nghiệp công nghệ cao, tăng tỷ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm, chú trọng phát triển các ngành, lĩnh vực, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Hỗ trợ nghiên cứu đổi mới, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ gắn với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhằm tăng năng suất lao động, tạo ra các sản phẩm chất lượng, có giá trị gia tăng cao, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, giảm thiểu chất thải, bảo vệ môi trường…
Xây dựng các khu, cụm liên kết ngành tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Thu hút và phát triển nhóm ngành công nghiệp chủ lực . Duy trì quy mô hiện tại, tăng giá trị sản xuất trực tiếp, giảm gia công đối với ngành dệt may và công nghiệp hỗ trợ ngành may, da giày. Chú trọng hỗ trợ phát triển đa dạng ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, dược liệu… nhằm tăng giá trị, hạn chế xuất thô và ổn định đầu ra cho sản xuất nông nghiệp.
Đầu tư hạ tầng công nghiệp gắn với giải quyết tốt vấn đề môi trường, xử lý nước thải, chất thải công nghiệp. Kết nối phát triển hạ tầng công nghiệp với phát triển mạng lưới giao thông liên kết vùng, miền. Giải quyết tốt hạ tầng xã hội như: Nhà ở, cơ sở khám chữa bệnh, cơ sở giáo dục, nhà trẻ tại các khu, cụm công nghiệp.
4.4. Phát triển nông nghiệp, xây dựng NTM theo hướng bền vững. Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM đi vào thực chất, hiệu quả, bền vững, đem lại sự chuyển biến tích cực đến cuộc sống của người dân ở nông thôn; tiến đến xây dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu. Tập trung xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, kết nối chặt chẽ xây dựng NTM với quá trình đô thị hóa. Có cơ chế để thu hút mạnh các doanh nghiệp đầu tư vào khu vực nông thôn, nhất là lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao để xây dựng liên kết theo chuỗi giá trị, tiêu thụ sản phẩm, lấy đầu ra cho sản phẩm làm tiền đề để tổ chức sản xuất, xem đây là khâu đột phá cho phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh trong thời gian đến. Đẩy mạnh thực hiện Chương trình OCOP gắn với xây dựng thương hiệu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm và phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn.
Đẩy nhanh thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển nông nghiệp sinh thái; chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa tập trung, an toàn, ứng dụng rộng rãi kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao vào sản xuất; nghiên cứu chuyển đổi từ nền nông nghiệp sản xuất lương thực là chủ yếu sang nền nông nghiệp thực phẩm và cây dược liệu, gắn với công nghiệp chế biến.
Xây dựng các mô hình liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân; khuyến khích phát triển kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, hợp tác xã, mô hình hợp tác xã kiểu mới trong nông nghiệp để nâng cao năng lực tổ chức quản lý, hoạt động của hợp tác xã trong việc liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm, xây dựng vùng sản xuất tập trung, cung cấp dịch vụ đầu vào trong sản xuất nông nghiệp.
Tạo sự gắn kết giữa phát triển công nghiệp, dịch vụ với nông nghiệp, nông thôn; đa dạng hoá thu nhập của cư dân nông thôn. Phát triển kinh tế nông thôn gắn với bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, phát triển các làng nghề, du lịch sinh thái nông thôn. Tạo sản phẩm để phát triển các tour, tuyến du lịch về nông thôn với hình thức du lịch bảo đảm cộng đồng tại chỗ được hưởng lợi trực tiếp từ dịch vụ du lịch. Triển khai có hiệu quả Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với giải quyết việc làm để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động; tăng nhanh tỉ trọng thu nhập từ khu vực phi nông nghiệp. Có cơ chế thúc đẩy tích tụ ruộng đất hợp lý, đảm bảo quyền lợi lâu dài của người nông dân.
5. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Xây dựng đề án phát triển giáo dục ngay từ bậc học mầm non đến đại học nhằm mục tiêu xây dựng, phát huy các giá trị chuẩn mực con người Việt Nam gắn với bản sắc văn hóa con người Quảng Nam, phát triển toàn diện nhân cách, thể lực, trí lực, tinh thần cho học sinh… góp phần hình thành một thế hệ công dân mới đáp ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và thời kỳ phát triển mới của đất nước.
Tăng cường chất lượng, chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Thực hiện hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông mới, chương trình sữa học đường cải thiện tình trạng dinh dưỡng, góp phần nâng cao tầm vóc trẻ em mầm non và học sinh tiểu học tại 06 huyện miền núi cao của tỉnh; phát động phong trào học bơi và phòng, chống đuối nước cho học sinh; xây dựng văn hóa đọc; tăng cường an ninh, an toàn trường học.
Rà soát quy hoạch, triển khai Đề án sắp xếp, phát triển hệ thống trường học và cơ sở giáo dục đào tạo, giáo dục nghề nghiệp theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, khu vực, phấn đấu đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất trường lớp tốt nhất cho dạy và học. Khuyến khích phát triển mạnh mẽ giáo dục ngoài công lập, nhất là các trường nhiều cấp học, trường chất lượng cao và trường mầm non. Nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học ngoại ngữ ở tất cả các bậc học. Chuyển đổi Trường Đại học Quảng Nam trở thành thành viên của đại học vùng.
Tăng đầu tư, sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn đầu tư của Nhà nước cho giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh. Xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời. Quan tâm thích đáng đến đầu tư cho giáo dục và đào tạo chất lượng cao, trình độ cao và cho vùng khó khăn, đồng bào dân tộc ít người. Xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, nền nếp, kỷ cương; tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh; nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
6. Đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao mạnh mẽ khoa học và công nghệ, thông tin truyền thông
Triển khai thực hiện hiệu quả Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ; cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển hoạt động khoa học và công nghệ của tỉnh. Hoàn thiện cơ chế chính sách, tạo mọi điều kiện để khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực cho phát triển kinh tế – xã hội. Phát triển hợp lý, đồng bộ các lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn theo hướng đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống, hướng tới sản phẩm hàng hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu chuẩn – đo lường – chất lượng và tăng cường hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đổi mới sáng tạo. Đa dạng hoá các nguồn đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ. Thúc đẩy phát triển thị trường, tăng cường hợp tác về khoa học và công nghệ.
Đẩy mạnh các hoạt động thông tin truyền thông. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chung phục vụ phát triển chính quyền điện tử, đồng bộ với hệ thống hạ tầng dữ liệu quốc gia. Tiến đến xử lý công việc trên môi trường mạng; nâng cao mức độ ứng dụng dịch vụ công trực tuyến, cải thiện năng lực quản lý hạ tầng số. Tập trung quản lý nâng cao chất lượng, định hướng hoạt động lĩnh vực báo chí, phát thanh truyền hình.
7. Phát huy giá trị và sức mạnh văn hóa, con người Quảng Nam
Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của người Quảng Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, khắc phục có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống. Bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển các giá trị, nhân cách tốt đẹp của con người Quảng Nam; khơi dậy khát vọng vươn lên, cống hiến cho cộng đồng, đất nước. Ban hành các chủ trương, đề án phát triển sự nghiệp văn hóa, con người Quảng Nam trong tình hình mới. Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Đặc biệt quan tâm giáo dục, chăm sóc, bảo vệ trẻ em. Xây dựng môi trường sống, học tập và làm việc lành mạnh, công bằng về cơ hội và lợi ích. Phát triển thể dục, thể thao toàn dân để tăng cường sức khỏe của Nhân dân; đồng thời, làm cơ sở phát triển thể dục, thể thao thành tích cao.
Tiếp tục có kế hoạch bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc, các giá trị tốt đẹp trong văn hoá tôn giáo, tín ngưỡng, trong các lễ hội văn hoá. Gắn chặt và phát huy ưu thế của văn hoá trong phát triển du lịch; đồng thời, bảo vệ, giữ gìn tài nguyên văn hoá cho các thế hệ sau. Xây dựng văn hoá lãnh đạo, văn hoá quản lý; chuẩn mực văn hoá gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Tăng cường xây dựng văn hoá doanh nghiệp, doanh nhân, làm cho văn hoá trở thành động lực giúp lực lượng sản xuất trực tiếp trong hoạt động kinh tế. Khuyến khích, tạo điều kiện cho Hội Văn học nghệ thuật, văn nghệ sỹ tham gia sáng tác, biểu diễn, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho Nhân dân.
8. Quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống Nhân dân; đẩy mạnh công tác giảm nghèo bền vững
Tiếp tục quan tâm đầu tư cho công tác y tế, nhất là chất lượng đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, gắn với ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào các hoạt động y tế; chú trọng y tế cơ sở, y tế dự phòng, công tác phòng, chống dịch cho Nhân dân. Đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực y tế; đầu tư, nâng cấp ít nhất một bệnh viện có chất lượng cao tại Quảng Nam. Nâng cao chất lượng công tác dân số và phát triển. Thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; vấn đề bình đẳng giới…
Tập trung thực hiện công tác giảm nghèo bền vững theo chuẩn nghèo đa chiều, đặc biệt quan tâm khu vực đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; giảm dần khoảng cách giàu – nghèo giữa các vùng, miền. Bảo đảm cung cấp tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản tối thiểu như: nhà ở, giáo dục, y tế, nước sạch, thu gom rác thải, thông tin truyền thông và các thiết chế văn hóa cơ bản. Quan tâm đầu tư các công trình văn hóa, phục vụ dân sinh như: Công viên văn hóa, khu vui chơi cho trẻ em, viện dưỡng lão…
Gắn kết chặt chẽ trong thực hiện các chính sách kinh tế với các chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Đa dạng hóa và đổi mới phân bổ ngân sách nhà nước thực hiện các chính sách xã hội phù hợp với nhu cầu, lợi ích của từng nhóm xã hội, bảo đảm mọi người đều bình đẳng, có cơ hội và điều kiện phát triển toàn diện, không để ai bị bỏ lại phía sau.
Chú trọng thực hiện tốt chính sách người có công với cách mạng trên cơ sở huy động mọi nguồn lực xã hội kết hợp với nguồn lực của Nhà nước, bảo đảm người có công có mức sống từ trung bình khá trở lên.
Đổi mới các chính sách về giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, nhất là tập trung giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp do chuyển đổi cơ cấu lao động theo cơ cấu kinh tế.
Thực hiện cải cách chính sách tiền lương và cải cách chính sách bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII.
9. Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai
Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, ô nhiễm và thảm họa môi trường. Xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành tài nguyên và môi trường kết nối liên thông với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của các các bộ, ngành Trung ương và các địa phương. Khắc phục cơ bản tình trạng lãng phí, khai thác trái phép làm cạn kiệt tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp, khu đô thị. Ứng dụng các thành tựu của khoa học – công nghệ để chế tạo ra các vật liệu xây dựng thay thế. Tạo bước cải thiện rõ rệt chất lượng môi trường và điều kiện sống của Nhân dân. Tập trung thực hiện tốt việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải, chất thải, xây dựng lộ trình để thực hiện việc tái sử dụng, tái chế và sản xuất thu hồi năng lượng từ chất thải. Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức, phát huy tốt vai trò của cộng đồng về bảo vệ môi trường. Hình thành các khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử dụng công nghệ tiên tiến, đảm bảo công tác thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên toàn tỉnh. Kiểm soát chặt chẽ các hoạt động xả thải, quản lý chất thải, nhất là chất thải nguy hại. Từng bước giảm phát thải khí nhà kính tại các khu công nghiệp, tiến tới nền kinh tế ít các-bon, tăng trưởng xanh.
Đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh đảm bảo hiệu quả, tăng khả năng thích ứng, giảm thiểu sự tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai xảy ra. Coi trọng tính hiệu quả, bền vững trong khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên; đảm bảo an ninh nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất, phát triển kinh tế và bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên, đặc biệt là đối với khu vực giữa tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng; khai thác, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; bảo vệ tài nguyên nước và phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra. Tuân thủ công tác đánh giá tác động môi trường chiến lược, gắn công tác bảo vệ tài nguyên môi trường đối với các chiến lược, quy hoạch ngay từ đầu. Triển khai thực hiện tốt công tác quản lý tổng hợp vùng bờ, hạn chế xung đột trong việc quy hoạch, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường. Nâng cao hiệu quả sử dụng đất, ngăn chặn tình trạng sử dụng đất lãng phí, tăng cường quản lý, khắc phục suy thoái đất.
Đấu tranh, ngăn chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường, đẩy lùi tình trạng gia tăng ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học.
Tăng cường, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực của cộng đồng quốc tế trong quản lý, khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường. Thực hiện các dự án, công trình nhằm ứng phó với tình hình biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai .
10. Bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận biên phòng toàn dân, xây dựng các tiềm lực trong khu vực phòng thủ tỉnh ngày càng vững chắc, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Quản lý, bảo vệ vững chắc toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, xây dựng biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, nâng cao chất lượng tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu; hoàn thành tốt công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ hằng năm; lực lượng dự bị động viên được xây dựng hùng hậu, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, được quản lý chặt chẽ, có trình độ chiến đấu cao; kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế – xã hội; quan tâm đầu tư xây dựng các công trình vừa bảo đảm quốc phòng, an ninh, vừa phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; tăng cường công tác giáo dục quốc phòng toàn dân, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập; chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả, làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập trên địa bàn tỉnh. Đảm bảo an ninh thông tin mạng, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý kịp thời thông tin xấu, độc làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
Nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật; kiềm chế sự gia tăng của tội phạm, nhất là các loại tội phạm có tổ chức, tội phạm hình sự, ma túy, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm trên không gian mạng; nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực nhằm phòng ngừa phát sinh những vấn đề phức tạp; tăng cường công tác bảo vệ an ninh nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước; nắm chắc tình hình và xử lý hiệu quả các vấn đề phát sinh, không để xảy ra “điểm nóng” về an ninh trật tự trên địa bàn; thực hiện tốt các giải pháp bảo đảm an toàn giao thông và đẩy mạnh hơn nữa phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Có giải pháp ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống. Phát huy tốt hoạt động của lực lượng công an chính quy tại xã, phường, thị trấn.
Đẩy mạnh các giải pháp đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội; bảo đảm an toàn giao thông; tập trung giải quyết những bức xúc trong xã hội như: Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, cờ bạc, tín dụng đen, tội phạm xã hội, xâm hại trẻ em, mê tín dị đoan.
11. Tăng cường công tác nội chính; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; cải cách tư pháp
Thực hiện tốt công tác kiểm tra, thanh tra để kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, bất cập, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực và phòng ngừa, phát hiện, xử lý nghiêm các sai phạm. Nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, không để xảy ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Thực hiện đúng các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác tiếp, đối thoại với công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, không để tồn đọng kéo dài, gây bức xúc trong Nhân dân.
Các cấp ủy đảng lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện tốt các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tạo sự chuyển biến hơn nữa để giữ vững ổn định xã hội, củng cố lòng tin của Nhân dân, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức kỷ luật, kỷ cương, liêm chính. Phát huy vai trò, trách nhiệm và tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát để phát hiện, ngăn ngừa hành vi tiêu cực, tham nhũng. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng và nâng cao hiệu quả thu hồi tiền, tài sản tham nhũng.
Thực hiện tốt cơ chế Đảng lãnh đạo chặt chẽ hoạt động tư pháp và các cơ quan tư pháp theo quy định; kịp thời triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác tư pháp, cải cách tư pháp; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao; quan tâm các chế định bổ trợ tư pháp về hoạt động luật sư, công chứng, giám định tư pháp… Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trong điều tra giải quyết các vụ việc, vụ án phức tạp kéo dài, dư luận xã hội quan tâm và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử đối với các cơ quan tư pháp theo quy định.
12. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân
Thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân; xây dựng giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh vững mạnh. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân đi đôi với giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật; tuyên truyền, vận động Nhân dân tích cực tham gia phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, các quan điểm sai trái và xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng dân chủ vi phạm pháp luật và quyền làm chủ của Nhân dân.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội; tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng sát cơ sở, gắn bó mật thiết với Nhân dân. Đa dạng hóa hình thức, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và Nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, khơi dậy tinh thần đoàn kết sáng tạo tham gia phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững, không trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, xây dựng đời sống văn hóa. Thực hiện tốt các hương ước, quy ước và nhân rộng các mô hình tự quản ở cơ sở; trong đó, chú trọng phát huy vai trò cộng đồng dân cư.
Tăng cường vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội. Tập trung thực hiện hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; chủ động nắm bắt tình hình, tâm tư, nguyện vọng, tập hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của Nhân dân; phối hợp tổ chức đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Nhân dân. Thực hiện tốt vai trò đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và Nhân dân theo quy định của pháp luật.
Thực hiến tốt chính sách và chăm lo cải thiện đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số. Động viên, khuyến khích đồng bào các tôn giáo xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”.
Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội từ tỉnh đến cơ sở tinh gọn, hoạt động hiệu quả; quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng yêu cầu về lý luận, năng lực thực tiễn và kỹ năng công tác vận động quần chúng; luân chuyển, bố trí cán bộ có năng lực, kinh nghiệm, uy tín, trưởng thành từ phong trào làm công tác dân vận, Mặt trận đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
13. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý, điều hành của hệ thống chính quyền các cấp; đẩy mạnh cải cách hành chính; tinh giản biên chế và cơ cấu lại tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
Tiếp tục thực hiện kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền các cấp theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII. Sáp nhập các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã theo lộ trình; khuyến khích sáp nhập, giảm đầu mối, tăng quy mô đơn vị hành chính các cấp ở những nơi có điều kiện. Sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo nguyên tắc một đơn vị sự nghiệp công lập có thể cung ứng nhiều loại hình dịch vụ công, giảm đầu mối, khắc phục chồng chéo, dàn trải, trùng lắp về chức năng nhiệm vụ để sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất và nguồn nhân lực.
Tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2021 – 2026; đồng thời, củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của UBND các cấp trong nhiệm kỳ đến. Tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, đại biểu Quốc hội tỉnh. Đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND các cấp, nhất là các kỳ họp để ban hành nghị quyết khả thi, sát đúng thực tiễn, đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của cử tri. Tăng cường công tác giám sát thực hiện nghị quyết của HĐND, giám sát việc thực hiện các chính sách và pháp luật.
Tiếp tục phân cấp, phân quyền trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ giữa các cấp, các ngành theo hướng phân cấp mạnh mẽ, minh bạch, thiết thực và hiệu quả hơn. Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi công vụ; tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính để nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, điều hành của ủy ban nhân dân các cấp. Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp, cơ quan và sự năng động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Đổi mới phong cách, phương pháp làm việc, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, lấy sự hài lòng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm thước đo quan trọng trong cải cách hành chính. Thúc đẩy việc áp dụng công nghệ thông tin trong xây dựng chính quyền điện tử hướng tới chính quyền số để quản lý nhanh hơn, minh bạch, hiệu quả hơn.
Tập trung xây dựng, hoàn thiện các quy định, chính sách nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh. Tiếp tục rà soát các quy định về cải cách thủ tục hành chính theo hướng rút ngắn quy trình xử lý, giảm số lượng và đơn giản hóa nội dung hồ sơ, giảm thời gian và chi phí thực hiện; ưu tiên các thủ tục phục vụ khởi nghiệp, các lĩnh vực về tài chính, đầu tư, đất đai, xây dựng, y tế, chính sách người có công. Bảo đảm đồng bộ, kết nối thông tin thông suốt từ Trung tâm Hành chính công tỉnh đến Trung tâm hành chính công/Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp huyện, cấp xã.
14. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế
Tổ chức thực hiện tốt và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại địa phương. Xây dựng mối quan hệ gắn bó đối với các tỉnh, thành phố trong vùng để khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh, bảo đảm sự phát triển ổn định và bền vững. Phối kết hợp đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả giữa đối ngoại của cấp uỷ, ngoại giao của chính quyền và đối ngoại nhân dân. Đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao văn hóa. Nâng tầm tổ chức và tham gia tốt các sự kiện lễ hội giao lưu văn hóa quốc tế.
Tăng cường công tác quản lý về biên giới, lãnh thổ. Giải quyết kịp thời, hiệu quả các vấn đề phát sinh có yếu tố nước ngoài trên địa bàn tỉnh. Tăng cường đối ngoại chính trị nhằm thắt chặt hơn nữa quan hệ hợp tác với tỉnh Sê Koong (Lào), góp phần làm sâu sắc thêm mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào; triển khai hiệu quả các Thỏa thuận hợp tác của tỉnh đã ký kết với các tỉnh, thành phố trong khu vực, trong nước và đối tác quốc tế; nghiên cứu, xúc tiến ký kết thiết lập, mở rộng quan hệ hợp tác với các địa phương của các nước và các tổ chức quốc tế có uy tín.
Tổ chức tốt các hoạt động quảng bá xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch quốc tế trong và ngoài nước; quan tâm xúc tiến kêu gọi các nhà đầu tư, doanh nghiệp FDI, các tổ chức quốc tế cho vay và tài trợ triển khai các dự án ODA, tăng cường xúc tiến vận động viện trợ, triển khai các chương trình, dự án phi chính phủ NGO để phát triển kinh tế – xã hội địa phương.

*
* *

Kế thừa và phát huy những thành quả đã đạt được, trong thời gian đến, toàn Đảng bộ tiếp tục tăng cường xây dựng Đảng; phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, bản sắc văn hóa và truyền thống cách mạng; huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, quyết tâm triển khai thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng trên địa bàn tỉnh và phát triển Quảng Nam nhanh, bền vững; trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước vào năm 2030, góp phần thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NAM